Giáo dục vẫn chưa thực thụ là quốc sách hàng đầu, chưa được ưu tiên nhất trong các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, chưa được coi là yếu tố quyết định của phát triển đất nước
Có cơ chế ưu đãi tín dụng cho các cơ sở giáo dục, đào tạo; đ) Xóa bỏ phòng học tạm, thực hiện mục tiêu kiên cố hóa trường, lớp học, từng bước hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục, đặc biệt là hạ tầng công nghệ thông tin. Phát triển giáo dục hợp với cơ chế thị trường, đảm bảo định hướng từng lớp chủ nghĩa. Các chế độ, chính sách đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục chưa thỏa đáng.
Đổi mới cơ bản hình thức và phương pháp thẩm tra, thi và đánh giá chất lượng giáo dục, bảo đảm chân thực, khách quan, xác thực, theo yêu cầu phát triển năng lực, phẩm chất người học Nhiệm vụ và giải pháp thứ ba nhằm xây dựng hệ thống đánh giá kết quả giáo dục một cách khoa học, hiệu quả, góp phần tạo ra một nền giáo dục bản chất, đáp ứng đề nghị phát triển của giang sơn.
[5] Hệ thống giáo dục mở là hệ thống giáo dục linh hoạt, liên thông giữa các yếu tố (nội dung, chương trình, phương pháp, phương thức, thời kì, không gian, chủ thể giáo dục…) của hệ thống và liên thông với môi trường bên ngoài hệ thống, đảm bảo tính sáng tạo cho việc xây dựng, tổ chức các nội dung, hình thức giáo dục; tạo cơ hội tiếp cận giáo dục cho mọi người; tận dụng các nguồn lực cho giáo dục và đảm bảo tính hiệu quả, phát triển vững bền của hệ thống.
Từng lớp hóa giáo dục và hiệp tác quốc tế được đẩy mạnh, đạt nhiều kết quả quan trọng. Chú trọng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu và chuyên gia giáo dục trình độ cao. Đến nay, dự thảo Đề án đã hoàn tất. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định “Đổi mới cơ bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế” và “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tụ hợp vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân”.
Nếu không đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo thì nhân lực sẽ là yếu tố ngăn trở sự phát triển của giang sơn. * Với các quan điểm chỉ đạo, đích và các nhiệm vụ, giải pháp nêu trên, nền giáo dục Việt Nam sẽ được đổi mới căn bản, toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, tầng lớp hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế: 1. Quản lý tốt là tiền đề cơ bản để dạy tốt và học tốt Để đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, điều đặc biệt quan yếu là phải đổi mới căn bản quản lý giáo dục; trong đó tụ tập vào việc t ăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, phát huy vai trò của ngành giáo dục, vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội; đẩy mạnh phân cấp, nâng cao trách nhiệm, tạo động lực và tính chủ động, sáng tạo của các cơ sở giáo dục.
2. Để tiến hành thành công đổi mới cơ bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong tình cảnh hiện, cần quán triệt thêm một số quan điểm chỉ đạo sau: 1.
[2] (1) Một số dữ liệu về hiện trạng giáo dục Việt Nam; (2) Một số dữ liệu về thực trạng dạy nghề; (3) Một số kết quả trội của ngành giáo dục và đào tạo thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng; (4) Đề xuất hoàn thiện cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam; (5) Đề xuất phương án thống nhất tích hợp và phân hóa trong chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam; (6) Đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ quát sau 2015; (7) Đổi mới thi - công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh đại học; (8) Kết quả dự thi Olympic, thi tay nghề quốc tế và khu vực của học trò Việt Nam.
III. Đồng đẳng giới trong giáo dục được đảm bảo. Trên đây là những nội dung chủ yếu của Đề án “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng từng lớp chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”.
Chưa gắn kết đào tạo với sử dụng và nhu cầu của thị trường cần lao. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng, ngoại ngữ (chủ yếu là tiếng Anh), tin học, năng lực thực hiện và ứng dụng tri thức vào thực tại.
Tư duy mới về giáo dục được cụ thể hóa từ khâu quán triệt đến tổ chức thực hành trong hệ thống Đảng, chính quyền, ngành giáo dục và trong toàn tầng lớp; b) Khẳng định hàng ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục có vai trò quyết định chất lượng giáo dục; người học là chủ thể của quá trình giáo dục; gia đình có bổn phận kết hợp với nhà trường trong việc giáo dục tư cách, lối sống và hướng nghiệp, chọn ngành nghề cho con em mình; công nghệ thông báo càng ngày càng có tác động mạnh mẽ làm đổi thay căn bản cách chọn lọc nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức và quản lý giáo dục; c) Tăng cường nghiên cứu để tạo cơ sở khoa học và áp dụng các kết quả nghiên cứu khoa học giáo dục, khoa học quản lý phục vụ công tác đổi mới cơ bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; d) Đổi mới mạnh mẽ công tác thông báo và truyền thông để thống nhất về nhận thức, tạo sự đồng thuận và huy động sự tham gia của toàn xã hội vào công cuộc đổi mới và phát triển giáo dục.
II. Nhiều cấp ủy Đảng, chính quyền từ Trung ương đến địa phương còn lúng túng trong việc cụ thể hóa ý kiến “giáo dục là quốc sách hàng đầu” và xử lý các vấn đề của giáo dục trong thực tiễn; chưa thiết chế hóa kịp thời, hiệp các chủ trương, chính sách của Đảng về giáo dục. A) tiếp chuyện đẩy mạnh việc phân định công tác quản lý quốc gia về giáo dục với công tác quản lý đào tạo, quản trị của cơ sở giáo dục; b) Các cơ quan quản lý giáo dục địa phương được chủ động quyết định hoặc tham dự trực tiếp về quản lý nhân sự, tài chính cùng với quản lý thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của giáo dục mầm non, phổ thông, nghề; c) coi trọng quản lý chất lượng đầu ra, quản lý quá trình đào tạo và chuẩn hóa các điều kiện bảo đảm chất lượng.
Xây dựng và thực hiện cơ chế điều hòa, kết hợp trong quá trình phát triển và hoạt động của các trường sư phạm, sư phạm kỹ thuật theo mục tiêu, kế hoạch đào tạo, bồi bổ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trên phạm vi cả nước. Việc hội nhập phải trên cơ sở giữ gìn bản sắc văn hóa và độc lập dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, phát triển bền vững giáo dục nước nhà.
Đối với những ngành đào tạo có khả năng xã hội hóa cao, mức đóng học phí được quy định trên cơ sở tính đủ phí, ứng với chất lượng đào tạo, ngân sách nhà nước không tương trợ, trừ đối tượng chính sách. Tiếp sắp đặt lại màng lưới các trường đại học, cao đẳng và các viện nghiên cứu, song song đổi mới cơ chế để gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học.
Yêu cầu xây dựng và bảo vệ giang sơn trong tình hình mới, đặc biệt là đề nghị chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng chất lượng, hiệu quả, có sức cạnh tranh cao đòi hỏi giáo dục phải đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của người dân, chóng vánh góp phần tạo ra hàng ngũ nhân công chất lượng cao.
Đích giáo dục là phát triển năng lực công dân, đào tạo nhân công, bồi bổ tuấn kiệt. Ngày 29 tháng 8 năm 2013, Bộ Chính trị đã nghe và cho quan điểm về dự thảo Đề án. Giáo dục còn nặng bệnh thành tích; đánh giá kết quả ở nhiều cơ sở giáo dục còn thiếu thực chất. Chuyển từ đốn thực hiện chương trình giáo dục trên lớp học sang tổ chức đa dạng các hình thức thực hành chương trình giáo dục; tăng cường các hoạt động xã hội, nghiên cứu khoa học của người học.
Tuy nhiên, so với yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ giang san, nhất là đề nghị đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế và phát triển vững bền, giáo dục còn nhiều yếu kém, bất cập. Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì tổ chức tuyên truyền, phổ thông, quán triệt Nghị quyết đến các cấp ủy đảng, chi bộ và đảng viên; chủ trì theo dõi, rà soát, đôn đốc, sơ kết, tổng kết việc thực hành Nghị quyết.
Tụ hợp xây dựng một số trường sư phạm, sư phạm kỹ thuật trung tâm. Trong các nhiệm vụ, giải pháp nói trên, có thể coi “đổi mới tư duy giáo dục”, “đổi mới quản lý giáo dục”, trong đó có “đổi mới chính sách, cơ chế tài chính” và “phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục” là các giải pháp mấu chốt, “đổi mới soát, thi và đánh giá” là khâu đột phá.
Tăng cường công tác dự báo về giáo dục, đào tạo và nhu cầu nguồn nhân công của từng lớp; e) Hoàn thiện cơ chế quản lý lưu học sinh ở nước ngoài, cơ chế liên kết đào tạo với nước ngoài và cơ chế quản lý những cơ sở giáo dục nước ngoài ở Việt Nam; g) Đổi mới quản trị cơ sở giáo dục, đào tạo theo hướng phát huy dân chủ, tính sáng tạo; giao quyền tự chủ, tự chịu bổn phận đồng bộ cả về tổ chức thực hiện nhiệm vụ, nhân lực, tài chính, tài sản; tăng dần vai trò của Hội đồng trường, giảm dần vai trò của bộ chủ quản.
Những hạn chế, yếu kém Đề án chỉ ra 6 hạn chế, yếu kém: 1. Khuyến khích và hỗ trợ công dân Việt Nam đi học tập và nghiên cứu ở nước ngoài bằng kinh phí tự đắc; d) liên kết đào tạo với các cơ sở giáo dục nước ngoài cốt yếu hội tụ trong lĩnh vực giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp.
8. Phát triển giáo dục măng non dưới 5 tuổi có chất lượng, phù hợp với điều kiện và đề nghị của từng địa phương. Hàng ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục còn nhiều bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; thiếu động lực tự học và đổi mới; chưa bắt kịp yêu cầu của đổi mới giáo dục.
Báo Điện tử VOV xin đăng toàn văn bản bẩm tóm tắt của Đề án: thực hành Chương trình làm việc của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Ban cán sự đảng Chính phủ được giao chủ trì xây dựng Đề án "Đổi mới cơ bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế" trình Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 6 (khóa XI).
Chuyển hệ thống giáo dục cứng nhắc, thiếu liên thông sang hệ thống giáo dục mở; hình thành cơ chế học tập suốt đời gắn với xây dựng từng lớp học tập; thực hành từng lớp hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế.
5. Bối cảnh đổi mới giáo dục và đào tạo 1. Dự thảo Đề án đã được gửi xin quan điểm góp ý của một số bộ, ngành, các tỉnh, tỉnh thành trực thuộc Trung ương, liên hợp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, Hội Khuyến học Việt Nam, Hội Cựu giáo chức Việt Nam.
Chuyển phát triển giáo dục hiện nay đẵn theo đích số lượng sang phát triển theo mục tiêu vừa nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, vừa đáp ứng yêu cầu số lượng theo nhu cầu nhân công của từng lớp. Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ sơn hà, hạp quy luật phát triển khách quan, những tiến bộ khoa học và công nghệ.
6. Hệ thống trường lớp và quy mô giáo dục phát triển nhanh, thực hành nền giáo dục toàn dân, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng của nhân dân và nâng cao được trình độ đào tạo, trình độ và kỹ năng nghề nghiệp của người lao động. QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ ĐỀ ÁN Từ tháng 01 năm 2013, Ban soạn thảo Đề án đấu Triển khai các hoạt động nghiên cứu, hoàn thiện dự thảo Đề án trên ý thức khoa học, cầu thị, hấp thụ các quan điểm góp ý của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội đồng Lý luận Trung ương, Hội đồng Khoa học các cơ quan đảng Trung ương, Hội đồng quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực, Mặt trận đất nước Việt Nam, hấp thu quan điểm tại nhiều hội thảo khoa học, trong đó có 2 cuộc hội thảo lớn (ngày 11 - 12 tháng 7 tại Hà Nội và ngày 16 tháng 7 tại thành thị Hồ Chí Minh), với sự dự của các cơ quan can hệ[1], các nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và các nhà khoa học.
6. Bảo đảm bình đẳng về tôn và nhịp đào tạo, bổ dưỡng chuyên môn nghiệp vụ giữa nhà giáo trường công lập và trường ngoài công lập. Xây dựng hệ thống kiểm định độc lập về chất lượng giáo dục và đào tạo; d) Xây dựng cơ chế tiếp thụ và xử lý các thông báo trong quản lý giáo dục.
Yếu kém trong công tác quản lý, chỉ đạo của ngành giáo dục, bao gồm cả quản lý ngành và quản lý các cơ sở giáo dục, là nguyên do của nhiều yếu kém khác. Phát triển đa dạng nội dung, tài liệu học tập đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của mọi người; c) tiếp kiến đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và ứng dụng kiến thức, kỹ năng của người học, giao hội dạy cách học, cách nghĩ và tự học, theo phương châm “giảng ít, học nhiều”.
Đương đại hóa mục tiêu, nội dung giáo dục, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục, phương pháp đánh giá giáo dục, cơ sở vật chất và hệ thống quản lý giáo dục. 1. 4. Thiếu quy hoạch phát triển nhân lực của giang san, của ngành giáo dục. [7] Dạy học phân hóa là tổ chức dạy học tùy theo đối tượng, thích hợp với tâm- sinh lý, khả năng, nhu cầu và hứng của người học nhằm phát triển tối đa tiềm năng vốn có của mỗi học trò.
Tạo điều kiện để các nhà giáo, chuyên gia nước ngoài, kể cả người Việt Nam ở nước ngoài, tham dự giảng dạy và nghiên cứu ở trong nước.
Kèm theo Đề án có 08 phụ lục[2]. Cán bộ quản lý giáo dục các cấp phải được đào tạo về nghiệp vụ quản lý; c) Có chế độ đặc thù cho nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục ở cơ sở giáo dục và cơ quan quản lý giáo dục.
Những thành quả, kết quả chính của giáo dục là: 1. Không kịp thời sơ kết, tổng kết, đánh giá các chính sách về giáo dục.
Từng bước chuẩn hóa hệ thống các trường măng non. Đánh giá chung Trong điều kiện giang sơn còn nhiều khó khăn, nguồn lực còn hạn hẹp, được sự quan tâm, chăm lo của Đảng, quốc gia và toàn xã hội, với những nuốm của đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý, giáo dục và đào tạo nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ đất nước: thực hành giáo dục toàn dân, nâng cao dân trí, phát triển nhân lực, bồi bổ anh tài; góp phần giáo dục tinh thần công dân, phẩm chất chính trị, lý tưởng cách mạng cho các đời con người Việt Nam; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa; các điều kiện đảm bảo chất lượng được tăng cường; chất lượng và hiệu quả giáo dục ở các cấp học, trình độ đào tạo có tiến bộ; hợp tác quốc tế được mở mang; lực lượng lao động qua đào tạo tăng khá nhanh.
Bổ dưỡng khát vọng học tập suốt đời. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tạo, đồng thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập để phát triển tổ quốc. Thực hiện chính sách tài chính khác nhau đối với trường không vì lợi nhuận và trường vì lợi nhuận.
Đổi mới để tạo ra chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng và hiệu quả giáo dục, đáp ứng ngày một tốt hơn đề nghị của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ giang san, nhu cầu học tập của quần chúng.
Tập kết phát triển một số cơ sở giáo dục đại học dẫn đầu về nghiên cứu và phát triển công nghệ đào tạo mở và từ xa. 2. [6] Dạy học tích hợp là tổ chức, hướng dẫn để học sinh biết huy động tổng hợp tri thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực nhằm giải quyết các nhiệm vụ trong học tập và trong cuộc sống. Chưa có sự phối hợp tốt giữa các cơ quan quốc gia, các tổ chức xã hội trong việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển giáo dục.
Mức chi cho mỗi người học chưa cân xứng với đề nghị về chất lượng, chưa ăn nhập ngành nghề và trình độ đào tạo. Quan hoài đầu tư hơn nữa cho giáo dục vùng có đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - từng lớp đặc biệt khó khăn, những ngành nghề cần vấn người học. Chương trình giáo dục còn coi nhẹ thực hiện, ứng dụng tri thức; phương pháp giáo dục, rà, thi và đánh giá lạc hậu, nhiều bất cập.
Nghiên cứu cơ chế, mô hình hiệp nhằm huy động nguồn lực của từng lớp để cùng nhà nước phát triển một số trường măng non, phổ biến chất lượng cao; b) Chuyển cơ chế cấp phát kinh phí bình quân sang đặt hàng trên cơ sở hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật và tiêu chí, tiêu chuẩn chất lượng của một số loại hình dịch vụ đào tạo, không phân biệt cơ sở đào tạo công lập và ngoài công lập nhằm tạo sự cạnh tranh lành mạnh và phát triển bình đẳng.
Tiện lợi a) giang sơn ổn định về chính trị, thành tựu phát triển kinh tế - xã hội trong 10 năm qua, Chiến lược phát triển kinh tế - tầng lớp 2011 - 2020 với yêu cầu tái cơ cấu nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng, cùng với Chiến lược và Quy hoạch phát triển nhân công thời đoạn 2011 - 2020 là những tiền đề cơ bản để thực hiện đổi mới cơ bản, toàn diện giáo dục Việt Nam; b) Đảng, nhà nước và toàn tầng lớp đặc biệt quan hoài, chăm lo phát triển giáo dục và đào tạo, mong muốn đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục, tận dụng dịp phát triển tổ quốc trong giai đoạn "cơ cấu dân số vàng" và hội nhập quốc tế mạnh mẽ; c) cách mệnh khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông phát triển mạnh làm biến đổi sâu sắc các lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo điều kiện tiện lợi để đổi mới giáo dục; d) Quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng tạo thời cơ thuận lợi để nước ta tiếp cận với các xu thế mới, kiến thức mới, những mô hình giáo dục và quản lý giáo dục hiện đại và tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để phát triển giáo dục; đ) quần chúng ta với truyền thống hiếu học và chăm lo cho giáo dục, sẽ tiếp kiến dành sự quan hoài và đầu tư cao cho giáo dục và đào tạo.
Tiến tới tất thầy tiểu học, trung học cơ sở phải có trình độ đại học; xuân đường, giảng sư các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có trình độ đại học trở lên và có năng lực sư phạm và năng lực nghề nghiệp tương ứng với trình độ và ngành nghề đào tạo; giảng viên cao đẳng, đại học có trình độ từ thạc sĩ trở lên và phải được đào tạo, bổ dưỡng nghiệp vụ sư phạm.
[4] “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với cần lao sinh sản, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường phối hợp với giáo dục gia đình và giáo dục từng lớp”. Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Chính phủ chỉ đạo kịp thời thiết chế hóa những nhiệm vụ nêu trong quyết nghị; rà hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến giáo dục và đào tạo, sửa đổi, bổ sung, ban hành mới văn bản để thực hiện quyết nghị.
Cơ sở vật chất - kỹ thuật của hệ thống giáo dục và đào tạo được tăng cường và từng bước hiện đại hóa. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ cốt tử chú trọng trang bị tri thức (nâng cao dân trí) sang tập hợp phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học (năng lực công dân). Nhận thức sâu sắc và đầy đủ các quan điểm chỉ đạo, đích, nhiệm vụ, giải pháp và điều kiện bảo đảm thành công sự nghiệp đổi mới cơ bản, toàn diện nền giáo dục nước nhà.
2. Hình thành hệ thống giáo dục nghề với nhiều phương thức và trình độ đào tạo kỹ năng nghề theo hướng ứng dụng, thực hiện, bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật của doanh nghiệp, thị trường cần lao trong nước và xuất khẩu.
Đổi mới căn bản và toàn diện không có tức thị làm lại tất tật, từ đầu mà cần vừa củng cố, phát huy các thành quả và tiêu biểu đổi mới, vừa kiên quyết chỉnh đốn những méo mó, những việc làm trái quy luật, phát triển những yếu tố tích cực mới; đổi mới có trọng tâm, trung tâm, có lịch trình hiệp với thực tại giang sơn, địa phương.
Khuyến khích việc hình thành các quỹ học bổng giúp cho học sinh nghèo và học trò giỏi; d) Xây dựng chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư cho giáo dục và đào tạo.
Nghiên cứu giảm hợp lý số niên học đại học ở một số ngành và lĩnh vực (cá biệt có trường hợp tăng thêm); d) Hệ thống giáo dục phổ thông đốn là loại hình trường công lập; đồng thời khuyến khích tầng lớp đầu tư phát triển các trường chất lượng cao.
T ăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của quốc gia đối với quá trình đổi mới giáo dục , trước hết là đ ổi mới mạnh mẽ, sâu sắc tư duy giáo dục Nhiệm vụ và giải pháp này nhằm đổi thay nhận thức và bổn phận của toàn tầng lớp về giáo dục. Hình thành một số cơ sở giáo dục nghề chất lượng cao; đẩy mạnh giáo dục nghề sau trung học, liên thông giữa giáo dục nghề và giáo dục đại học.
Đây là nhiệm vụ đặc biệt quan yếu, vừa trước mắt, vừa lâu dài quyết định sự thành công của công cuộc đổi mới cơ bản toàn diện giáo dục và đào tạo. A) Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện, yêu gia đình, yêu đất nước; có hiểu biết và kỹ năng căn bản, khả năng sáng tạo để làm chủ bản thân, sống tốt và làm việc hiệu quả - thực học, thực nghiệp; phát triển tốt nhất tiềm năng của mỗi cá nhân; đóng góp tích cực vào sự phát triển của giang san; b) Xây dựng nền giáo dục mở, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt, có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; đảm bảo các điều kiện nâng cao chất lượng.
Nay quy định này không còn hợp vì các nhà trường đã được trang bị thêm các thiết bị phục vụ việc dạy, học và quản lý nhà trường.
Không giao nhiệm vụ đào tạo, tẩm bổ ba đối với một số cơ sở đào tạo sư phạm hiện thời nếu xét thấy không còn phù hợp. A) mở rộng hội nhập quốc tế về giáo dục trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ.
Phần thứ hai THỰC TRẠNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO V IỆT NAM I. Dạy học ngoại ngữ và tin học theo hướng chuẩn hóa, thiết thực, bảo đảm năng lực dùng thực tiễn của người học.
Chất lượng giáo dục và đào tạo được nâng lên, góp phần đáp ứng yêu cầu nhân công phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ giang sơn. Đổi mới cơ chế phân phối của các trường công theo hướng vừa bảo đảm lợi quyền của người cần lao, người học, vừa có tích lũy tái đầu tư, tăng cường cơ sở vật chất của trường; c) Có chính sách, cơ chế, quy định tỷ lệ đóng góp của người học, tầng lớp và nhà nước trong chi phí giáo dục.
Xét về thiết kế chương trình giáo dục, việc tích hợp sẽ giúp cho việc giảm số môn học.
Thách thức a) Nguồn lực nhà nước và khả năng của phần lớn gia đình đầu tư cho giáo dục và đào tạo, nhất là về tài chính còn hạn chế, chưa đáp ứng được đề nghị đảm bảo chất lượng giáo dục trong khi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế đòi hỏi phải có nguồn nhân công chất lượng cao; b) Khoảng cách giàu nghèo giữa các nhóm dân cư, sự phát triển không đều giữa các địa phương vẫn là nguyên cớ của sự bất bình đẳng về cơ hội tiếp cận giáo dục và sự chênh lệch chất lượng giáo dục giữa các đối tượng người học và các vùng miền; c) Tư duy bao cấp, sức ỳ trong nhận thức, tác phong quan tiền trong xử sự với giáo dục của nhiều cấp, nhiều ngành, của nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục cũng như tư duy bao cấp và tâm lý khoa mục của người dân còn lớn, không theo kịp sự phát triển nhanh của kinh tế, từng lớp và khoa học công nghệ; d) Khoảng cách phát triển về kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ giữa nước ta và các nước tiên tiến có xu hướng gia tăng.
Các trường sư phạm chỉ làm nhiệm vụ đào tạo, tẩm bổ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và nghiên cứu khoa học. 2. Trong Hội đồng trường bảo đảm vai trò của Đảng ủy và cơ quan chủ quản.
Thực hành chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý theo từng cấp học. Một số nội dung căn bản của đề án được đăng tải trên các dụng cụ thông tin đại chúng. Giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của Đảng, nhà nước và của toàn dân, là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò một yếu tố quyết định để thực hiện thành công mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - từng lớp.
4. 5. 3. Các cấp ủy đảng, đảng đoàn, ban cán sự đảng lãnh đạo, chỉ đạo công tác giáo dục, tuyên truyền, tạo sự thống nhất về nhận thức; xây dựng kế hoạch hành động thực hành Nghị quyết, bổ sung các chỉ tiêu nêu trong quyết nghị vào kế hoạch của ngành, lĩnh vực, địa phương và hàng năm kiểm điểm, đánh giá việc thực hành.
Chưa có cơ chế sàng lọc, đưa những nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục không đạt chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ và phẩm chất, đạo đức ra khỏi ngành giáo dục.
Đấu hoàn thiện chính sách và cơ chế tín dụng cho học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay để chi trả cho việc học. Công bằng từng lớp trong tiếp cận giáo dục có nhiều tiến bộ, nhất là đối với người dân tộc thiểu số, người nghèo, cần lao nông thôn, đối tượng chính sách và người có tình cảnh khó khăn.
A) Nội dung, hình thức thẩm tra, thi và đánh giá kết quả giáo dục phải chú trọng đánh giá việc hiểu, ứng dụng kiến thức, kỹ năng vào việc giải quyết các vấn đề trong học tập và thực tiễn; hạn chế yêu cầu ghi nhớ máy móc, “học tủ”; đánh giá được sự tiến bộ về phẩm chất và năng lực của người học; phối hợp dùng kết quả đánh giá trong quá trình học và đánh giá cuối kỳ, cuối năm học; đánh giá của người dạy và tự đánh giá của người học; đánh giá của nhà trường và đánh giá của gia đình, của xã hội; b) Đổi mới phương thức thi và xác nhận tốt nghiệp trung học phổ quát theo hướng thẩm tra năng lực học trò, thiết thực, hiệu quả, tin tưởng.
Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đào tạo Nhiệm vụ và giải pháp thứ sáu nhằm x ây dựng hàng ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, gương mẫu về trách nhiệm nghề nghiệp, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ; đây là giải pháp mấu chốt đảm bảo sự thành công của công cuộc đổi mới giáo dục.
Thực hành cơ chế tự chủ và chịu trách nhiệm xã hội, công khai, chịu sự giám sát của các chủ thể trong nhà trường, của quốc gia và của xã hội đối với cơ sở giáo dục đồng thời tăng cường công tác thanh tra, rà của cơ quan quản lý các cấp; h) Các cấp ủy đảng, chính quyền, các tổ chức xã hội, các cơ quan quản lý và các cơ sở giáo dục tập kết lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, phối hợp bổn phận giải quyết các hiện tượng tiêu cực kéo dài, gây bức xúc xã hội.
Một số hiện tượng tiêu cực kéo dài trong giáo dục, chậm được khắc phục, có việc còn trầm trọng hơn, gây bức xúc tầng lớp. Ngân sách nhà nước đóng vai trò quyết định cho giáo dục phổ cập.
Khoa học giáo dục còn lạc hậu. Phân tầng cơ sở giáo dục đại học theo định hướng nghiên cứu và định hướng ứng dụng - thực hành. Hệ thống giáo dục còn cứng nhắc, thiếu tính liên thông giữa các trình độ đào tạo và các phương thức giáo dục, chưa ăn nhập với đề nghị phát triển tổ quốc và hội nhập quốc tế. Có cơ chế, chính sách hỗ trợ để có đủ "đất sạch" cho việc xây dựng trường, quản lý nghiêm ngặt không để đất quy hoạch cho xây trường dùng vào mục đích khác; e) đảm bảo giám sát chém đẹp việc dùng kinh phí; thực hành công khai, sáng tỏ để tầng lớp và người học giám sát, đánh giá.
Quan niệm và các quan điểm chỉ đạo đổi mới cơ bản, toàn diện giáo dục và đào tạo được biểu đạt rõ hơn và được cụ thể hóa trong mục tiêu, các nhiệm vụ và giải pháp. Tiếp chuyện đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các nhân tố cơ bản của chương trình giáo dục (đích, nội dung, phương pháp giáo dục) theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học Nhiệm vụ và giải pháp thứ hai nhằm chuyển từ giáo dục đẵn nhằm trang bị tri thức sang mục tiêu phát triển phẩm chất và năng lực người học.
D) Giáo dục đại học tụ họp đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng thiên tài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự đổi mới kiến thức, sáng tạo của người học.
Các nguyên lý giáo dục chưa được quán triệt và thực hiện tốt[4]. A) Sự nghiệp đổi mới cơ bản, toàn diện giáo dục và đào tạo được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự quản lý của quốc gia, với sự dự của toàn tầng lớp. Hội nhập quốc tế: mở rộng quan hệ song phương và đa phương trong hiệp tác quốc tế về giáo dục; khuyến khích các tổ chức, cá nhân chủ nghĩa nước ngoài, tổ chức quốc tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư, tài trợ, giảng dạy, nghiên cứu khoa học, áp dụng khoa học, chuyển giao công nghệ và xây dựng một số cơ sở giáo dục.
3. Việc xác định nhiều mục tiêu phát triển giáo dục chưa tính đầy đủ đến các điều kiện thực hành.
4. 3. /. Quy hoạch phát triển các cơ sở giáo dục đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của quần chúng và xây dựng từng lớp học tập.
Phát triển hài hòa, đồng đẳng, tương trợ lẫn nhau giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giáo dục các vùng, miền. Tuyển lựa kết liên đào tạo với những cơ sở giáo dục nước ngoài đã được kiểm định và công khai kết quả kiểm định.
Có chính sách khuyến khích học sinh, sinh viên nghiên cứu khoa học; d) Khuyến khích thành lập các viện, trọng tâm nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong các trường đại học; hỗ trợ đăng ký và khai thác sáng chế, phát minh trong các cơ sở giáo dục.
Đổi mới nội dung giáo dục đại học theo hướng căn bản, tích hợp các lĩnh vực kiến thức, kỹ năng và hiểu biết xã hội, tiếp cận thành tựu khoa học - công nghệ tiên tiến trên thế giới. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và hội nhập quốc tế.
Một số địa phương đã đổi thay tỷ lệ chi, ví dụ thành thị Hà Nội: 70/30 đối với trung học phổ quát, 75/25 đối với tiểu học và trung học cơ sở. Đồng thời với việc cấp trên đánh giá cấp dưới, thực hiện cơ chế người học tham dự đánh giá hoạt động giáo dục, nhà giáo tham dự đánh giá cán bộ quản lý, cơ sở giáo dục dự đánh giá cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục.
Chất lượng giáo dục chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - từng lớp; chưa tạo ra lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ về nhân công của nước ta so với các nước trong khu vực và trên thế giới, chưa hăng hái chủ động góp phần vào việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc. Phần thứ tư TỔ CHỨC thực hành 1. Đo lường chừng độ ưng của người dân đối với sự phục vụ của các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và của các cơ sở giáo dục; đ) Phát triển hệ thống thông báo quản lý giáo dục và thị trường cần lao.
Quản lý giáo dục còn nhiều bất cập; kinh phí đầu tư cho giáo dục còn hạn chế. Hướng tới có loại hình cơ sở giáo dục do cộng đồng đầu tư; đ) Đa dạng hóa các phương thức đào tạo.
Quơ cơ sở giáo dục có nguyên tố nước ngoài ở Việt Nam đều phải dạy và học về giang sơn và con người Việt Nam; đ) Khuyến khích các tổ chức, cá nhân chủ nghĩa nước ngoài, tổ chức quốc tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư, tài trợ, giảng dạy, nghiên cứu khoa học, ứng dụng khoa học, chuyển giao công nghệ và xây dựng một số cơ sở giáo dục ở Việt Nam.
Học trò, sinh viên Việt Nam đạt kết quả cao trong các kỳ thi quốc tế và khu vực.
Thiếu gắn kết giữa đào tạo với nghiên cứu khoa học, sinh sản, kinh doanh. * Phương án 2: Các văn kiện của Đảng về giáo dục đã nêu nhiều ý kiến chỉ đạo còn nguyên giá trị phải tiếp tục được quán triệt và thực hiện: Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước; giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, của quốc gia và của toàn dân; đích của giáo dục là nâng cao dân trí, đào tạo nhân công, bổ dưỡng nhân kiệt; phát triển giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - tầng lớp, những tiến bộ khoa học - công nghệ và củng cố quốc phòng - an ninh; đa dạng hóa các loại hình giáo dục; học đi đôi với hành, giáo dục nhà trường gắn liền với giáo dục gia đình, xã hội; thực hành công bằng trong giáo dục; ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và các đối tượng diện chính sách.
Phát triển hài hòa, đồng đẳng, hỗ trợ lẫn nhau giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giáo dục các vùng, miền. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ cốt chú trọng trang bị tri thức (nâng cao dân trí) sang giao hội phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học (năng lực công dân).
Đa dạng hóa các cơ sở đào tạo phù hợp với nhu cầu phong phú về công nghệ và trình độ phát triển của các lĩnh vực, ngành nghề, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao phục vụ cho phát triển kinh tế - từng lớp.
2. Nhân lực nước ta đã làm chủ được một số công nghệ hiện đại
Thực hiện giáo dục bắt buộc 9 năm từ sau năm 2020. Hàng ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục tăng nhanh về số lượng, trình độ đào tạo được nâng lên, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục.
Cơ sở vật chất kỹ thuật của nhiều cơ sở giáo dục còn thiếu và lạc hậu, chưa đạt chuẩn quy định, thiếu quỹ đất dành cho phát triển giáo dục. Xây dựng cơ chế học phí cao - chất lượng cao đối với một số chương trình đào tạo, có sự giám sát chặt đẹp của cơ quan quản lý nhà nước và xã hội. Có cơ chế quy định bổn phận của các doanh nghiệp, cá nhân chủ nghĩa sử dụng cần lao dự vào quá trình đào tạo và đầu tư cho đào tạo.
Nguyên cớ của những hạn chế, yếu kém: Chưa nhận thức sâu sắc và chậm đổi mới tư duy về phát triển giáo dục trong cơ chế thị trường định hướng từng lớp chủ nghĩa.
II. Việc hội nhập phải trên cơ sở giữ giàng bản sắc văn hóa và độc lập dân tộc, hấp thụ tinh hoa văn hóa nhân loại, phát triển vững bền giáo dục nước nhà. Tại các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ quát, tỷ lệ chi cho lương và phụ cấp theo lương không quá 75% tổng kinh phí chi thẳng tính hàng năm.
Những hạn chế, thách thức của giáo dục phải được nhận thức sâu sắc, có giải pháp hữu hiệu và lịch trình để khắc phục, vượt qua để đưa sự nghiệp giáo dục lên tầm cao mới. Tiến tới đảm bảo sự đồng đẳng về quyền của người học ở trường công lập và người học ở trường ngoài công lập. Hệ thống giáo dục được chuẩn hóa, hiện đại hóa, tầng lớp hóa, dân chủ hóa, hội nhập quốc tế; giữ vững định hướng từng lớp chủ nghĩa và mang đậm bản sắc dân tộc.
7. Phát triển mạng lưới cơ sở nghiên cứu khoa học giáo dục, tụ hợp đầu tư nâng cao năng lực nghiên cứu của cơ quan nghiên cứu khoa học giáo dục quốc gia. Đặt hàng và giao kinh phí sự nghiệp khoa học và công nghệ cho các trường đại học để thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học; đ) Nghiên cứu sáp nhập một số viện nghiên cứu khoa học với các trường đại học công lập. 4. V. Phần thứ ba ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI cơ bản, TOÀN DIỆN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Đề án nêu những thuận lợi, thách thức, quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
[3] Từ khi giành được độc lập năm 1945 đến nay, nước ta đã ba lần tiến hành cách tân giáo dục vào năm 1950, năm 1956 và năm 1981.
4. Hoàn thiện cơ chế hợp tác song phương và đa phương về giáo dục và đào tạo, gắn với việc tăng cường công tác quản lý quốc gia; b) Triển khai các dự án, chương trình hợp tác quốc tế về giáo dục ở tầm quốc gia, ở các địa phương và các cơ sở giáo dục; c) Tăng chỉ tiêu đào tạo ở nước ngoài với sự tương trợ của ngân sách đối với các ngành mũi nhọn, đặc thù và sinh viên trường sư phạm.
Xây dựng từng lớp học tập. Những thành tựu trên và yêu cầu phát triển giang sơn trong thời kỳ mới cho phép và đòi hỏi giáo dục Việt Nam chuyển từ phát triển thực tế đốn theo đích số lượng sang mục tiêu quý trọng cả chất lượng, hiệu quả và số lượng theo nhu cầu xã hội.
Gắn kết chặt đào tạo, nhất là đào tạo sau đại học, với nghiên cứu khoa học và công nghệ; phát triển các sản phẩm và các giải pháp mới phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; c) Ưu tiên đầu tư cho nghiên cứu các khoa học mũi nhọn, phòng thể nghiệm trọng điểm, trung tâm nghiên cứu, trọng điểm công nghệ cao, cơ sở sản xuất thử nghiệm ở trình độ hiện đại trong các cơ sở giáo dục đại học.
Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt thụ động của cơ chế thị trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục. 5. Có chính sách tạo điều kiện thuận tiện cho các giảng sư trẻ có nhà ở, dự nghiên cứu khoa học, học tập nâng cao trình độ, năng lực.
Phát triển các trọng tâm giáo dục - đào tạo - bồi dưỡng nghề các cấp từ cơ sở. Phân định rõ ngân sách chi cho giáo dục măng non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học với ngân sách chi cho cơ sở đào tạo, bồi dưỡng thuộc hệ thống chính trị và các lực lượng vũ trang.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu khoa học và công nghệ, đặc biệt là khoa học giáo dục và khoa học quản lý Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học giáo dục và khoa học cai quản để giải quyết tốt những vấn đề lý luận và thực tế trong quá trình đổi mới giáo dục; song song đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và công nghệ trong các cơ sở giáo dục, nhất là cơ sở giáo dục đại học để nâng cao chất lượng đào tạo và góp phần phát triển khoa học và công nghệ của nhà nước, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế.
3. Hoàn thiện mô hình đại học nhà nước, đại học vùng, song song củng cố và phát triển một số cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp đạt trình độ cao ở khu vực và trình độ quốc tế để cung cấp nhân công chất lượng cao. Đ) Giáo dục liền tù tù tạo nhịp cho mọi người, nhất là ở vùng nông thôn, vùng khó khăn, các đối tượng diện chính sách được học tập ở mọi lúc, mọi nơi, mọi trình độ nhằm nâng cao dân trí, trình độ, kỹ năng, chuyên môn nghiệp vụ, chất lượng cuộc sống; tạo điều kiện thuận lợi để chuyển đổi nghề nghiệp đối với người cần lao; củng cố vững bền kết quả xóa mù chữ.
Có màng lưới các cơ sở giáo dục đại học, cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo ăn nhập với quy hoạch phát triển nhân công quốc gia; phát triển một số trường ngang tầm khu vực và quốc tế. Thực hành chuẩn hóa, hiện đại hóa và dân chủ hóa giáo dục.
Xếp đặt lại hệ thống các cơ sở đào tạo cha nội theo hướng khắc phục tình trạng phân tán; hình thành các trường sư phạm khu vực. 3. Đẩy mạnh đào tạo nghề, bổ dưỡng năng lực, kỹ năng nghề tại cơ sở sinh sản, kinh dinh. Duyên do cốt tử của những thành quả, kết quả: Những thành tựu, kết quả quan trọng của giáo dục bắt nguồn từ truyền thống hiếu học của dân tộc; sự ưu tiên đầu tư của các gia đình cho việc học tập của con em mình; ý thức ham học hỏi và tinh thần vượt khó của các đời học sinh, sinh viên; sự lãnh đạo thẳng tắp, trực tiếp của Đảng và nhà nước, sự quan hoài của toàn xã hội đối với sự nghiệp giáo dục; ngành giáo dục đã có nhiều thế đổi mới trong chỉ đạo, quản lý và tổ chức thực hiện nhiệm vụ, bước đầu đáp ứng những yêu cầu của sự nghiệp phát triển giáo dục trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; sự tận tụy của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; sự ổn định về chính trị cùng với những thành quả phát triển kinh tế - từng lớp và hội nhập quốc tế.
Hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi vào năm 2015, nâng cao chất lượng phổ cập trong những năm tiếp theo và thực hiện miễn học phí trước năm 2020 cho đối tượng này. Mặc dầu vậy, vẫn có không ít nhà trường không đủ 20% kinh phí đảm bảo hoạt động, tỷ lệ chi cho lương và phụ cấp theo lương vẫn chiếm tới 90 - 95%.
Phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ thay vì chỉ chú trọng trang bị tri thức; kết hợp hài hòa dạy người, dạy chữ và dạy nghề; b) Nội dung giáo dục đổi mới theo hướng tinh giảm, cơ bản, hiện đại, giảm tính hàn lâm, tăng tính thực hiện và áp dụng kiến thức, kỹ năng vào thực tiễn.
Thành lập Ủy ban quốc gia đổi mới cơ bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; khẩn trương xây dựng Chương trình hành động thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo ý thức của Nghị quyết. [1] Ban truyền giáo Trung ương, Ủy ban Văn hóa, giáo dục, thanh Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Trung ương Đảng, các trường đại học,. Chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hiệp tác quốc tế trong giáo dục, đào tạo Chủ động mở rộng và nâng cao hiệu quả hiệp tác quốc tế về giáo dục và đào tạo nhằm tranh thủ các nguồn lực, vận dụng có lựa chọn và sáng tạo kinh nghiệm và các mô hình giáo dục tiền tiến đi đôi với phát huy nội lực, giữ vững bản sắc dân tộc, độc lập, tự chủ và định hướng tầng lớp chủ nghĩa.
Giáo dục là một nguyên tố giữ vai trò quyết định để thực hành thành công đích “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, cần được ưu tiên trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; ưu tiên lãnh đạo và đầu tư về tài chính và nhân công. Xét về thiết kế chương trình giáo dục, việc phân hóa đề nghị phải xây dựng nhiều môn học hoặc chủ đề dành cho người học tự chọn.
Hội nhập quốc tế và hiện tượng thương nghiệp hóa giáo dục đang làm nảy nhiều nguy cơ tiềm tàng như sự xâm nhập lối sống không lành mạnh, xói mòn bản sắc văn hóa dân tộc; sự thâm nhập của các loại dịch vụ giáo dục kém chất lượng, lạm dụng dạy thêm, học thêm, chạy trường, chạy điểm, v. Thiết kế nội dung giáo dục phổ quát theo hướng tích hợp[6] cao các môn học ở các lớp học dưới và phân hóa[7] dần ở các lớp học trên; giảm số môn học bắt buộc; tăng số môn học, chủ đề và hoạt động giáo dục dành cho học sinh tự chọn.
Xây dựng, áp dụng chính sách và cơ chế động viên đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục tích cực tự học, tự tẩm bổ nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
Chính phủ, Ban Cán sự đảng Chính phủ đã có nhiều phiên họp đàm đạo, hoàn thiện Đề án. Chưa quý trọng đúng mức đánh giá hiệu quả quản lý và hiệu quả đầu tư cho giáo dục. Thực hiện tốt các nguyên lý giáo dục “Học đi đôi với hành, giáo dục phối hợp với lao động sinh sản, lý luận gắn liền với thực tại, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục tầng lớp”.
2. So với Dự thảo Đề án trình Hội nghị Trung ương 6, Dự thảo lần này đã chỉnh sửa, bổ sung và làm minh bạch nhiều nội dung: mô tả sự chính trực, đúng mức hơn trong đánh giá thực trạng, duyên cớ; làm rõ hơn mối liên tưởng về nội dung giữa các phần của Đề án.
2. 9. * Phương án 1: Để đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo cần quán triệt các quan điểm chỉ đạo sau: 1. 6. Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục vùng có điều kiện kinh tế - tầng lớp đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và các đối tượng diện chính sách. B)Giáo dục phổ quát tụ hội nâng cao dân trí, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, định hướng nghề nghiệp cho học sinh.
A) Xây dựng khung trình độ quốc gia, tiêu chuẩn kỹ năng nghề nghiệp hợp với bối cảnh sơn hà và xu thế các nước trong khu vực và trên thế giới. Đổi mới chương trình giáo dục đạo đức, giáo dục công dân, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh theo hướng tụ hội vào những giá trị cơ bản của đạo lý dân tộc, đạo đức tầng lớp, bổn phận cộng đồng, những giá trị then chốt và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin; giảm tải hạp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề đào tạo.
2. 3. Xu thế chung của thế giới khi bước vào thế kỷ XXI là các nước tiến hành đổi mới mạnh mẽ hay cách tân giáo dục. Công khai kết quả đo lường mức độ chấp nhận của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan quản lý quốc gia về giáo dục và các cơ sở giáo dục; công khai chính sách giáo dục, công khai tài chính, các điều kiện đảm bảo và kết quả giáo dục; tăng cường vai trò của Hội đồng trường.
Định kỳ kiểm định chất lượng các cơ sở giáo dục, đào tạo và các chương trình đào tạo, công khai kết quả kiểm định trước từng lớp. Đích đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo tới năm 2030 Các đích được nêu trong Đề án là mục tiêu định hướng, nên Đề án không nêu số liệu cụ thể như trong các Chiến lược đã được ban hành.
Bản tính cạnh tranh giữa các quốc gia hiện nay là cạnh tranh về nguồn nhân lực và về khoa học và công nghệ. Nhiều chính sách và cơ chế tài chính lạc hậu, phân bổ tài chính mang tính bình quân, dàn trải. Mở thêm loại hình bồi bổ sau tấn sĩ; b) Ổn định hệ thống giáo dục phổ thông như hiện, thực hành giáo dục căn bản, bức 9 năm, phân luồng mạnh sau trung học cơ sở; phân hóa và định hướng nghề ở trung học phổ thông; đấu nghiên cứu đổi mới hệ thống giáo dục phổ biến phù hợp với xu thế phát triển giáo dục của các nước; c) Quy hoạch lại màng lưới cơ sở giáo dục nghề, giáo dục đại học gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - tầng lớp, quy hoạch phát triển nhân lực gắn với nhu cầu của thị trường lao động.
Nhiều chính sách, cơ chế, giải pháp về giáo dục có hiệu quả trong thời đoạn vừa qua, nay đã không còn ăn nhập, cần được điều chỉnh. Xây dựng mới chương trình giáo dục phổ biến tuổi sau năm 2015. 4. III. Chuyển phát triển giáo dục cốt tử theo mục tiêu số lượng sang phát triển theo mục tiêu vừa nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, vừa đáp ứng đề nghị số lượng theo nhu cầu nhân công của xã hội; thực hành chuẩn hóa, hiện đại hóa và dân chủ hóa giáo dục.
Nhiều hạn chế, yếu kém của giáo dục đã được nêu từ quyết nghị Trung ương 2 khóa VIII vẫn chậm được khắc phục, có mặt còn nặng nề hơn. Kết quả nghiên cứu của các chuyên gia trong và ngoài nước đều khẳng định, mức chi (vớ các nguồn) tối thiểu cho một sinh viên đại học/năm bằng 1,2 lần thu nhập quốc dân bình quân đầu người/năm thì mới có chất lượng.
5. Mục tiêu tổng quát Tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng và hiệu quả giáo dục; khắc phục căn bản các yếu kém kéo dài đang gây bức xúc trong từng lớp để giáo dục và đào tạo trở thành một yếu tố quyết định cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Thực hiện xã hội hóa, dân chủ hóa giáo dục và hội nhập quốc tế. Qua ba lần cách tân[3] và quá trình đổi mới những năm gần đây, giáo dục Việt Nam (bao gồm cả đào tạo, sau đây gọi chung là giáo dục) đã đạt được nhiều thành tựu, góp phần quan yếu vào thắng lợi của công cuộc xây dựng và bảo vệ giang san.
A. A) Ngân sách chi cho giáo dục tối thiểu đạt 20% tổng chi ngân sách. 6. Đích giáo dục toàn diện chưa được hiểu và thực hiện đúng.
I. IV. Quản lý giáo dục và đào tạo còn nhiều yếu kém. Đảm bảo đến năm 2020 số học trò/lớp không vượt quá quy định của từng cấp học. Ban Chấp hành Trung ương cho rằng đây là vấn đề lớn, can hệ và phức tạp, còn nhiều ý kiến khác nhau, do đó cần đấu nghiên cứu, tổng kết, tạo sự thống nhất cao để ban hành quyết nghị vào một thời điểm ăn nhập.
Chưa nhận thức đầy đủ về vai trò quyết định chất lượng giáo dục của hàng ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Mức chi (bít tất các nguồn) cho một sinh viên đại học/năm tiến tới tối thiểu bằng 1,2 lần thu nhập quốc dân bình quân đầu người/năm[8]. Ban truyền đạo Trung ương, Ban cán sự Đảng Bộ GD-ĐT vừa ban bố mỏng tóm lược Đề án “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng đề nghị công nghiệp hóa, đương đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng từng lớp chủ nghĩa và hội nhập quốc tế".
Chuyển hệ thống giáo dục cứng nhắc, thiếu tính liên thông giờ sang hệ thống giáo dục mở[5], linh hoạt, bảo đảm liên thông giữa các trình độ và giữa các phương thức đào tạo, tạo điều kiện thuận tiện cho người dân học tập suốt đời. Bây chừ, mức chi bình quân này ở Việt Nam mới chỉ đạt 0,5. ; Năm 2003, mức chi cho một sinh viên đại học/năm so với mức thu nhập bình quân đầu người/năm ở khối các nước OECD là 1,6 - 1,7; ở Mỹ: 2,9; Canada: 2,4; Hàn Quốc: 2,6; Đài Loan: 2,0; Nhật: 1,3, Trung Quốc: 0,8.
NỘI DUNG ĐỀ ÁN Phần thứ nhất SỰ cần thiết PHẢI ĐỔI MỚI căn bản, TOÀN DIỆN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 1. Nhà giáo của các cơ sở đào tạo phải đi thực tại tại các cơ sở sản xuất, dịch vụ.
A) Xác định mục tiêu giáo dục con người vừa đáp ứng đề nghị tầng lớp vừa phát triển cao nhất tiềm năng của mỗi cá nhân. Đổi mới phải bảo đảm tính hệ thống, có tầm nhìn dài hạn, các giải pháp đồng bộ, khả thi, có cơ sở khoa học. Triển khai chương trình nghiên cứu quốc gia về khoa học giáo dục để cung cấp luận cứ cho việc hoạch định chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển giáo dục; b) Tăng cường công tác nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học.
Bảo đảm cho học trò chấm dứt lớp 9 phải có tri thức phổ biến nền móng, căn bản; học sinh trung học phổ biến phải được tiếp cận nghề và được chuẩn bị tốt cho thời đoạn học sau phổ biến.
Chuyển quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo. 1. 3. Chuẩn hóa các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục (chuẩn hóa hàng ngũ xuân đường và cán bộ quản lý giáo dục; chuẩn hóa cơ sở vật chất;. Quản lý, chỉ đạo còn nặng về điều hành sự vụ; chưa chủ động tư vấn các chính sách, giải pháp bảo đảm điều kiện phát triển giáo dục; chưa trọng đúng mức công tác quản lý chất lượng, thanh tra, rà soát, giám sát; chưa kịp thời tổng kết, nhân rộng các điển hình tiên tiến, chưa tạo được động lực đổi mới từ trong ngành.
Việc tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ và tôn vinh nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phải trên cơ sở đánh giá thực tế năng lực và hiệu quả công tác. Có cơ chế tuyển sinh và cử tuyển riêng để tuyển được những người có năng lực hạp vào ngành sư phạm; b) Đổi mới mạnh mẽ đích, nội dung, phương pháp đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng cha nội và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện trong đào tạo, tẩm bổ theo đề nghị nâng cao chất lượng giáo dục, nghĩa vụ, đạo đức nhà giáo và năng lực nghề nhằm đáp ứng đề nghị mới của giáo dục các cấp học và trình độ đào tạo.
Trọng sự kết hợp chém giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục từng lớp. Chủ động, hăng hái hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tạo, song song giáo dục và đào tạo phải đáp ứng đề nghị hội nhập để phát triển đất nước. Nhiệm vụ và giải pháp Để thực hành được những quan điểm và đích đổi mới cơ bản, toàn diện giáo dục, Đề án đề ra 9 nhiệm vụ, giải pháp.
2. Tuy nhiên, giáo dục đã miêu tả những yếu kém, bất cập, trong đó có những vấn đề gây bức xúc tầng lớp kéo dài.
Đẩy mạnh áp dụng công nghệ thông báo và truyền thông trong dạy và học; tăng cường vận dụng hình thức giáo dục từ xa có chất lượng. Đa dạng hóa nội dung giáo dục nghề nghiệp theo hướng tích hợp tri thức, kỹ năng, thái độ, hình thành năng lực nghề nghiệp cho người học. Những thành tựu, kết quả Nhìn tổng quát, trong thời kỳ đổi mới đất nước, giáo dục đã cung cấp nguồn nhân lực cần thiết cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ giang sơn, đóng góp rất quan trọng vào thành tựu của giang san: vượt qua khủng hoảng kinh tế, thoát khỏi tình trạng nước nghèo, chủ động hội nhập quốc tế ngày một hiệu quả.
Tiếp kiến thực hành chủ trương về lương cho xuân đường như Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) đã khẳng định, có thêm chế độ phụ cấp thâm niên và phụ cấp khác tùy theo tính chất, kết quả và chất lượng công việc, theo vùng, đi đôi với cơ chế đánh giá, chắt lọc; bổ sung chế độ cho cán bộ quản lý giáo dục được hưởng thâm niên nghề.
Đảm bảo mức chi cho mỗi người học tương ứng với chất lượng, phù hợp ngành nghề và trình độ đào tạo, nhất là đối với giáo dục nghề. Soát, hoàn thiện hệ thống giáo dục nghề theo hướng: thống nhất về tên gọi các trình độ đào tạo, chuẩn đầu ra, chính sách, cơ chế và đối tượng ứng dụng; bảo đảm liên thông trong hệ thống; bảo đảm thống nhất quản lý nhà nước của Chính phủ.
Công tác quản lý giáo dục có bước chuyển biến hăng hái. 5. Nguồn lực quốc gia và khả năng đầu tư cho giáo dục của phần đông gia đình còn hạn chế, chưa đáp ứng điều kiện tối thiểu để đảm bảo chất lượng các hoạt động giáo dục.
3. Mục tiêu cụ thể a)Giáo dục măng non tụ hội giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ, góp phần hình thành các yếu tố trước hết của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ bước vào lớp 1. Thiếu dự báo nhu cầu nhân lực cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân để làm cơ sở cho công tác quy hoạch phát triển giáo dục.
#, Sử dụng được kết quả công nhận tốt nghiệp trung học phổ quát làm căn cứ cho tuyển sinh của nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học; c) Đổi mới phương thức đánh giá và xác nhận tốt nghiệp đối với giáo dục kỹ thuật và đào tạo nghề trên cơ sở đánh giá năng lực thực hiện, kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp, có sự dự của doanh nghiệp hoặc đại diện dùng cần lao; d) Đổi mới phương thức tuyển sinh đại học theo hướng kết hợp kết quả giáo dục phổ quát và yêu cầu của ngành đào tạo; đánh giá kết quả đào tạo đại học theo hướng chú trọng đánh giá năng lực phân tách, phê phán, sáng tạo, giải quyết vấn đề và thái độ nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và áp dụng khoa học và công nghệ, năng lực thực hành tương xứng với trình độ đào tạo, năng lực thích ứng với môi trường làm việc; đ) Ngoài việc đánh giá kết quả học tập của người học, cần tiến hành các hình thức đánh giá chất lượng giáo dục cả nước, từng địa phương, từng cơ sở giáo dục; thực hiện các kỳ đánh giá nhà nước chất lượng giáo dục phổ biến và tham dự đánh giá quốc tế để làm cứ đề xuất chính sách, giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục; e) Xây dựng, hoàn thiện hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục của quốc gia, của tầng lớp.
Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, bảo đảm dân chủ, thống nhất; tăng quyền tự chủ và nghĩa vụ từng lớp của các cơ sở giáo dục; quý trọng quản lý chất lượng. Quan điểm chỉ đạo đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Đổi mới cơ bản, toàn diện giáo dục là đổi mới những vấn đề lớn, mấu chốt, cần thiết, từ tư duy, ý kiến đến đích, hệ thống, chương trình giáo dục (nội dung, phương pháp, thi, rà, đánh giá), các chính sách, cơ chế và các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục; đổi mới ở vớ các cấp học và trình độ đào tạo, ở cả Trung ương và địa phương, ở mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và từng lớp.
C)Giáo dục nghề tụ hội đào tạo nhân công có tri thức, kỹ năng và nghĩa vụ nghề nghiệp. Tư tưởng và nếp bao cấp trong giáo dục còn nặng nề. Chất lượng giáo dục còn thấp so với yêu cầu phát triển kinh tế - tầng lớp, nhất là ở giáo dục đại học, giáo dục nghề, là một trong những nguyên nhân làm hạn chế chất lượng nguồn nhân công của tổ quốc.
Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng tầng lớp học tập Nhiệm vụ và giải pháp thứ tư nhằm khắc phục những bất hợp lý của hệ thống giáo dục khép kín, thiếu mềm mỏng, thiếu liên thông; xây dựng hệ thống giáo dục mở đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người dân và tăng hiệu quả giáo dục.
Nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế càng ngày càng sâu rộng; sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, khoa học giáo dục và sự cạnh tranh quyết liệt trên nhiều lĩnh vực giữa các quốc gia đòi hỏi giáo dục phải đổi mới.
5. Đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, tăng cường cơ sở vật chất, huy động sự tham dự đóng góp của toàn tầng lớp, nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển giáo dục Nhiệm vụ và giải pháp thứ bảy khẳng định nguồn đầu tư từ ngân sách nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong tổng đầu tư từng lớp cho giáo dục, song song vẫn đa dạng hóa và phát huy hiệu quả các nguồn đầu tư khác cho giáo dục.
6. Nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục, phấn đấu đến năm 2020 có 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ giáo dục trung học phổ thông và tương đương.
Tại Kết luận số 51-KL/TW ngày 29 tháng 10 năm 2012, Ban Chấp hành Trung ương giao Ban Cán sự đảng Chính phủ chủ trì, phối hợp với Ban truyền đạo Trung ương tiếp chuyện nghiên cứu, hoàn chỉnh Đề án để trình Ban Chấp hành Trung ương.
Chú trọng dạy tiếng nói và chữ viết của dân tộc thiểu số. Đề án gồm 5 phần: (1) Sự cần thiết phải đổi mới cơ bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; (2) Thực trạng giáo dục và đào tạo Việt Nam; (3) Định hướng đổi mới cơ bản toàn diện giáo dục và đào tạo; (4) Tổ chức thực hiện; (5) Những vấn đề xin quan điểm Trung ương.
A) thực thụ trọng vai trò của khoa học giáo dục và khoa học quản lý. A) Xây dựng quy hoạch và kế hoạch đào tạo, tẩm bổ hàng ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. 2. Minh bạch hóa các hoạt động liên danh, liên kết của các đơn vị sự nghiệp giáo dục và đào tạo công; khắc phục tình trạng công tư lộn lạo. ); Xây dựng chuẩn đầu ra và chuẩn kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục và đào tạo, chương trình đào tạo.
Chiến trận sơn hà Việt Nam và các đoàn thể đẩy mạnh vận động các từng lớp dân chúng tích cực tham gia và giám sát việc thực hành Nghị quyết. [8] Theo quy định hiện hành, đối với các cơ sở giáo dục, cơ cấu chi ngân sách quốc gia là 80% cho lương và phụ cấp theo lương, 20% cho các hoạt động giáo dục (80/20). 7. 4. Đảm bảo đủ kinh phí đáp ứng yêu cầu của ngành giáo dục. 5. Từng lớp hóa:đa dạng chủ thể đầu tư, tham dự và giám sát các hoạt động giáo dục; xây dựng từng lớp học tập, bảo đảm điều kiện học tập suốt đời cho mọi người dân; thực hành tốt phương châm phối hợp chặt chịa giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để toàn tầng lớp dự xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh.
Có chế độ ưu đãi và quy định hợp lý tuổi nghỉ hưu đối với nhà giáo có trình độ cao, đồng thời có cơ chế miễn nhiệm hoặc bố trí công việc khác đối với những người không còn hợp. B. Những nhận thức lệch lạc về giáo dục, bệnh hình thức, sính bằng cấp và những bị động từng lớp đã để lại nhiều hậu quả khó khắc phục trong giáo dục.
4. Trong giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học, phát triển song song loại hình trường công lập và ngoài công lập; tăng cường vai trò trường ngoài công lập, bao gồm cả các trường chất lượng cao.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét